Tiếng khèn trên cao nguyên đá
910 1226
13.04.2012 00:55:32

Tiếng khèn trên cao nguyên đá

Văn hóa ba miền, Tiếng khèn trên cao nguyên đá | Tin tức 24h Vntimes
VN Times -

Cây Khèn Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn đã trở nên thân thiết và có giá trị từ rất lâu trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Mông. Ngoài ý nghĩa đó cây Khèn Mông còn có giá trị mang nét văn hóa đặc trưng vùng miền.



VN Times - Cây Khèn Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn đã trở nên thân thiết và có giá trị từ rất lâu trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Mông. Ngoài ý nghĩa đó cây Khèn Mông còn có giá trị mang nét văn hóa đặc trưng vùng miền.

thu khen cua dan toc mong
Nghệ nhân Mua Sính Pó thử âm thanh của cây khèn vừa mới làm xong. 

Là dân tộc lớn nhất ở Hà Giang, với hơn 215.461 người chiếm 30,70% dân số trong toàn tỉnh, đồng bào Mông sống rải rác trên các triền núi cao, sống xen kẽ với rất nhiều các dân tộc khác như Dao, Lô Lô, Pu Péo, Cờ Lao, Tày, Nùng… nhưng vẫn có ý thức quần tụ thành những vùng nhỏ đồng tộc (bản người Mông hay vùng người Mông). Do sống ở vùng núi cao, ít ruộng, nương rẫy, hầu hết là đá tai mèo lởm chởm nên một số người dân phải địu đất từ nơi khác tới để tạo dựng và duy trì cuộc sống. Hoàn cảnh thiếu nước càng gây thêm khó khăn cho công việc canh tác, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sản xuất.

Do đặc điểm tự nhiên, phong tục tập quán, sản xuất và sinh hoạt lâu đời đã hình thành nên những nét văn hóa sinh hoạt đa dạng, đặc trưng đối với từng dân tộc trong cộng đồng, nhất là nền văn hóa dân gian truyền thống như dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc đã tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Gắn liền với cuộc sống của họ, ngoài lao động sản xuất phải kể đến kho tàng về nhạc cụ dân tộc đặc sắc như: Đàn, Sáo, Nhị, Kèn pí lè và cây Khèn của dân tộc Mông… Người Mông rất coi trọng cây khèn trong đời sống sinh hoạt cộng đồng của mình. Họ coi khèn là loại nhạc khí giữ vai trò trọng yếu trong đời sống sinh hoạt văn hóa hay trong các nghi lễ đám tang, đám ma khô…và được sử dụng thường xuyên, ví như một thứ âm thanh nói thay lời người sống với những người đã khuất. Vì thế cây khèn mang ý nghĩa lớn hơn không chỉ đơn thuần là loại nhạc cụ truyền thống gắn liền với đời sống sinh hoạt cộng đồng, mà chính là người bạn đường chung thủy chia sẻ những tâm tư tình cảm, tình duyên, công việc, quan hệ... của các cá nhân với nhau. Trong các nghi lễ tín ngưỡng hay trong các lễ hội dân tộc, khèn còn là vật linh thiêng, là linh hồn của các lễ hội.Trong cộng đồng người Mông, tùy theo các dòng họ được dân làng giao cho thờ thầy khèn hay thần trống và cũng được truyền từ đời này sang đời khác theo một quy luật nhất định

Những người mua khèn về để treo thường không mấy chú ý đến âm thổi của cây khèn, chỉ cần hình dáng bên ngoài nhìn đẹp, ống trúc bóng thân khèn không nứt vỡ, các mối buộc đủ kín là được. Với những người thích thổi khèn thì sự chọn lựa đã cao hơn một bậc trong việc quan tâm đến âm thổi. Còn đối với những người thổi khèn thành nghệ nhân thì sự lựa chọn của họ đạt tới mức khó tính. Họ quý cây khèn của họ như chính sinh mạng của mình. Cây khèn lúc này giống như bảo kiếm của dũng sĩ thời xưa, đi đâu họ cũng mang theo.

Cây khèn được thổi trong đám ma thường được thắt thêm một dải lụa đỏ với ý nghĩa lúc này nó không còn là vật dụng của con người nữa mà nó là thần linh dẫn dắt linh hồn người chết lên được đến trời và tìm thấy tổ tiên dòng họ mình. Để biết cây khèn đã được thổi bao nhiêu đám ma chỉ cần đếm số dải lụa đỏ trên thân khèn là biết. Cây khèn ngoài nghi lễ truyền thống là thổi trong tang ma ra, ngày nay cây khèn đã có mặt trong các ngày hội vui của gia đình, dòng họ, làng bản,... Âm thanh của cây khèn vốn não nề, thương xót giờ chuyển sang vui tươi đằm thắm, trữ tình sâu lắng, dạt dào những xúc cảm mới, người thổi gói ghém được tâm tư, tình cảm của mình.
 
tieng khen trong le hoi
 
Chuyện kể rằng có chàng trai nhà nghèo rất thích cô con gái thứ tám của chúa đất giàu có. Khi các chàng trai khác mang lễ vật đến cầu hôn nàng thì chàng cũng đi theo nhưng chỉ dám đứng bên ngoài bức tường đá nhìn vào trong. Đêm xuống, các chàng trai đến xin cầu hôn mang sáo ra thổi. Chàng trai nhà nghèo chẳng có sáo và cũng không có gì ngoài cây khèn người cha để lại khi qua đời. Chàng càng nghe những khúc thức rạo rực của tiếng sáo mà tủi cho phận mình. Chàng nghe thêm một lúc tâm sự trong lòng dâng lên ngập tràn. Không biết trời sui đất khiến thế nào mà chàng gỡ cây khèn treo trên vai xuống thổi. Cây khèn lúc ấy người ta chỉ thổi cho người chết nghe với những âm điệu buồn thương sầu thảm. Nhưng âm điệu chàng thổi bên ngoài tường đá hôm ấy thì khác hẳn, nó tình tứ, nó da diết, nó thôi thúc, nó mãnh liệt... Người con gái chúa đất nghe tiếng khèn lọt thỏm giữa trăm ngàn tiếng sáo nên chú ý hơn, khi nghe rồi bổng thấy lòng xao xuyến lạ kỳ. Sang đêm thứ ba nàng không còn ở yên trong phòng được nữa mà lẻn ra ngoài bức tường đá để tìm gặp người thổi khèn. Khi gặp rồi hai người đã tìm thấy tình yêu trong nhau và cùng trốn đến một vùng núi khác xa xôi kết thành chồng vợ.

Không biết có phải xuất phát từ câu chuyện này không mà trong dân gian có lời đồn rằng ai biết thổi khèn khéo lên Cao nguyên đá tha hồ mà chọn vợ, các cô gái tìm theo rất nhiều. Đó cũng chỉ là lời đồn thổi nhưng không phải không gốc tích lý do. Từ đó trở đi cây khèn không còn bó hẹp trong các đám tang ma nữa mà đã được dùng nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày. Âm sắc của tiếng khèn mang nhiều nét giống với âm thanh của cuộc sống nên sự yêu mến dành cho Khèn Mông nhiều hơn các loại nhạc cụ khác.

Hàng năm vào dịp đầu xuân bà con trong các làng bản trên Cao nguyên đá lại tổ chức vui xuân và thổi khèn. Trong tất cả các lễ hội cây Khèn Mông luôn chiếm vị trí quan trọng ngoài âm thanh làm say đắm lòng người còn có tính cộng đồng rất cao. Tiêu biểu cho tính cộng đồng là múa đôi, thường là một nam một nữ, người nam vừa thổi khèn vừa múa, người nữ múa cùng và kèm ô trên tay e ấp duyên dáng trong xuân sớm. Nhiều đôi cùng múa ta được một hội khèn cộng đồng rất đặc sắc.


Mẫn Uyên