Người Raglai: Sự phân tầng vũ trụ và quan niệm tái sanh
9101093
25.01.2012 10:38:01

Người Raglai: Sự phân tầng vũ trụ và quan niệm tái sanh

Văn Hiến - Trong quan niệm cổ truyền, vũ trụ được người Raglai Khánh Hoà chia thành ba tầng, bao gồm: tầng trời, tầng mặt đất và tầng dưới mặt đất.


Người Raglai ở Khánh Hoà và  sự phân tầng thế giới

Trong kho tàng ngữ văn dân gian và trong hệ thống lễ nghi dày đặc quanh năm của cây trồng và nghi lễ vòng đời của người Raglai ở Khánh Hoà, chúng tôi chưa hề thấy có một tác phẩm nào miêu tả vũ trụ một cách rõ rệt. Ngay trong huyền thoại mà bất kỳ người Raglai nào cũng biết là Cơi Masirĩh Mỏq Vila (Ông trồng cây, Bà xây núi) cũng chỉ đề cập sơ lược đến việc tạo thiên lập địa; những tác phẩm akhàt jucar Raglai, akhàt ter, đờp pacap... không hề cho biết vũ trụ được tạo nên ra sao hay cấu trúc như thế nào mà chỉ đơn giản bằng câu chuyện thần thoại. Câu chuyện cổ xưa Raglai kể lại rằng hạt gạo khi thần linh ban phát cho loài người thì bể thành ba mảnh. Mảnh lớn nhất tạo nên tầng trời (cachua pava), mảnh vừa tạo ra thế giới ở mặt đất (Khrãh pava), mảnh nhỏ nhất tạo nên thế giới dưới lòng đất (tiluiq pava).

Các thiếu nữ Raglai hát múa trong “Ngày hội văn hóa - thể thao 
dân tộc Raglai ở Khánh Hòa và các tỉnh bạn” năm 2005 (Ảnh: Internet)

Theo dõi diễn biến của các cuộc lễ tang, lễ cưới, buổi cầu cúng của người Raglai; tìm kiếm trong kho tàng ngữ văn dân gian của họ và những lời kể của các nghệ nhân, già làng Raglai mà chúng tôi đã có dịp tiếp xúc và đã nghe nói những điều họ biết về vũ trụ huyền hoặc. Sắp xếp các tư liệu thu được chúng tôi nhận thấy rõ ràng vũ trụ quan của người Raglai còn cố định trong quan niệm dân gian. Đây là một quan niệm phức hợp như nhiều mặt khác trong nền văn hoá của người Raglai ở Khánh Hoà.

Trong quan niệm cổ truyền, vũ trụ được người Raglai Khánh Hoà chia thành ba tầng, bao gồm: tầng trời, tầng mặt đất và tầng dưới mặt đất.

Để hiểu rõ hơn tư duy cổ truyền của người Raglai, phản ánh qua vũ trụ quan tôn giáo của họ, chúng ta hãy xét đến thời gian và không gian ở tầng trời. Khi được hỏi đến các vị thần linh ở trên trời có chết hay không, với tất cả những người Raglai được hỏi đều khẳng định với chúng tôi rằng các vị thần linh này bất tử, không bao giờ chết. Nghệ nhân Chamaliaq Riya Tiẻnq cho rằng một ngày trên trời bằng một năm trần gian. Nếu như thế, thời gian của tầng trời được xem như vô tận. Nhưng không gian ở tầng trời lại hữu hạn. Trong các sử thi, truyện cổ, thành ngữ Raglai vẫn có câu “chân trời gốc biển”.


Mặt trời là xứ sở cao nhất, là nơi tận cùng của tầng trời, nơi cao nhất trong hệ thống trục dọc của vũ trụ. Còn nơi thấp nhất, chỗ tiếp giáp với tầng mặt đất là ở đâu thì không ai xác định rõ ràng. Trong sử thi Raglai kể lại những người anh hùng Raglai đến các tầng trời để cầu hôn những người con gái của xứ sở Thần Mặt trời đều đi bằng ngựa thần bay, trên tê giác bay... Nhưng không được nghe phải vượt qua một con sông, ngọn núi nào cụ thể.

Tầng mặt đất (khrãh pava) là nơi sống của con người, là khung cảnh quen thuộc với thung lũng, núi rừng, ruộng nước, rẫy nương; là palơi, là lagar của họ. Thời gian và không gian ở tầng mặt đất hữu hạn bởi cuộc đời con người.

Tầng bên dưới mặt đất, trong lòng đất (tiluiq pava/anảq jamuquãiq) là nơi ở của những người lùn (titẻt ma_ẻt). Nơi đó giống người này vẫn sinh sống, lấy vợ gả chồng, sản xuất như người ở tầng mặt đất. Nhưng ở đây mọi vật đều thu nhỏ lại. Súc vật trong nhà như con giun, con dế trên mặt đất. Trâu, bò chỉ bằng mèo, chó mà thôi. Trong quan niệm của người Raglai, tầng dưới lòng đất không phải là thế giới của siêu nhiên, không phải là cõi âm ty địa ngục như quan niệm của người Kinh. Tầng trong lòng đất tầng mặt đất vốn có lối thông thương, qua lại. Trong dân gian Raglai vẫn còn lưu truyền câu chuyện về một chàng trai Raglai đã xuống thế giới lòng đất trong một dịp anh ta tìm củ mài để kiếm ăn do gặp mùa giáp hạt. Sau khi nhổ gốc củ mài lớn, một lỗ hổng xuất hiện dưới gốc bụi mài. Theo lỗ hổng, anh xuống thế giới lòng đất. Tại đây, chàng trai Raglai đã cưới một cô gái xinh đẹp. Tuy nhiên, vấn đề làm cho khó khăn chính là việc ăn uống ở đây không như tầng mặt đất. Những con vật anh dùng làm thực phẩm hàng ngày như gà,vịt nay chỉ như con giun, con dế. Trong quá trình sống ở tầng dưới lòng đất, anh phát hiện ở đây có một giống cây mía đặc biệt. Thân cây mía cao, mập và chắc chắn. Anh đã bảo vợ trồng bụi mía bên dưới lỗ hổng, nơi trước đây anh đã đi xuống. Khi cây mía cao, ngọn vượt qua lỗ hổng, chàng trai Raglai đã leo theo cây mía để trở về quê cũ của mình...

Câu chuyện này đến nay còn lưu truyền trong dân gian Raglai, đặc biệt là nhóm Raglai Nam ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Giả thiết chúng tôi đưa ra ở đây rằng, có lẽ vì vậy hiện nay trong lễ tang của người Raglai người ta còn để cây mía trên quan tài khi đưa người chết đi chôn. Họ cho rằng, cây mía sẽ đưa anh về dưới lòng đất và cũng chính cây mía giúp anh trở lại quê cũ (tầng mặt đất) sau khi làm lễ Vidhi atơu.

Là thế giới vật chất vốn thông thương với nhau, vì vậy, tầng trên mặt đất và dưới lòng đất có lẽ cùng một không gian và thời gian (?). Đây cũng là vấn đề chúng tôi còn tiếp tục nghiên cứu trong thời gian đến.

Sơ đồ thế giới quan của người Raglai (Ảnh: Trần Kiêm Hoàng)


Trong vũ trụ 3 tầng trình bày ở trên, người Raglai ở Khánh Hoà quan niệm chung quanh họ hiện hữu ba thế giới: thế giới ông bà, thế giới trần gian và thế giới thần linh. Thế giới trần gian là thế giới của con người, thế giới ông bà là của tổ tiên (Cơi Mỏq). Hai thế giới trần gian và ông bà tách biệt bởi cái chết (matai) của con người. Con người và ông bà chỉ sinh sống ở tầng mặt đất. Người Raglai quan niệm tại thế giới của mình, ông bà cũng phải làm nương rẫy, cũng sinh hoạt như con người nhưng hoàn toàn trái ngược với thế giới trần gian. Bên này là xấu, bên kia là đẹp, bên này là ngắn, bên kia là dài… Vì vậy có tục khi chia của cải cho người chết về với thế giới ông bà thì ché phải đập bể, chiêng, mala phải đập cho biến dạng, trái cau, quả trứng gà là con gà, con heo; lá chuối là ruộng, là rẫy… điều này thể hiện khá rõ trong các đợt điền dã của chúng tôi ở các vùng người Raglai cư trú.

Đối với thế giới thần linh lại khác hẳn. Thần linh cư ngụ hết các cõi trần gian và ông bà, từ tầng trên trời, tầng mặt đất đến tầng dưới mặt đất.

Ở thế giới trần gian có các thần ở các tầng:

- Tầng trên Trời đứng đầu là thần Mặt Trời (Putau ia huruơi), thần Mặt Trăng (Ia Vila) (1), thần Tinh tú (Ia Pitùq), thần Mưa, sấm sét (saganã), chúa mẫu Không trung (Via Lawah), Thần sấm (Ru-uh ru-am grơm catal), thần chúa mẫu Lửa không gian (saganã Via Lùc), quanh Mặt trời có thần Rồng giữ cửa Mặt trời (Putau samagrãh muvãh nàc jàc ia huruơi hay còn gọi là Samagrãh samagrỉt rìq digơi)…

- Tầng mặt đất có các thần sông, biển (putau Tuwaq), thần Rừng (Yàc Dlai), thần núi (Yàc Chưq), đủ các loại thần xung quanh họ từ trong nhà ra đến rẫy nương…

- Tầng dưới Mặt đất đứng đầu là Putau Longca Longgadir (thần Lửa thiêng lòng đất), thần Mãng xà (Ching tar inã garai)

Thần linh ở thế giới ông bà cũng cư ngụ ở 3 tầng: tầng trên trời là Thượng đế (Aluah); tầng mặt đất có các vị thần trong nhà của ông bà tổ tiên của họ đang sống, cũng có thần sông, thần rừng, thần núi như ở trần gian. Tầng dưới mặt đất là ở thế giới ông bà là nơi cư trú của quỷ sứ (vhùq kray) (?).

Thế giới thần linh bao trùm cả thế giới ông bà và thế giới trần gian. Các thần linh có thể ngao du đây đó, gieo rắc tai họa hay ban phúc lành đến cho con người. Vị thần tối thượng ở thế  giới ông bà ở tầng trời là Aluah có  quyền năng ban cho con người đầu thai kiếp sống khác. Đây có thể là manh nha của hiện tượng nhất thần trong tín ngưỡng của người Raglai ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ qua giao lưu văn hóa với người Chăm.  

       
Quan niệm về  tái sanh của người Raglai. 

Con người ở thế giới trần gian cũng có thể  tự mình tiếp xúc với thần linh qua những lời cầu khấn ở các cuộc lễ thông thường. Trường hợp cần đến việc giải bùa chú của thần  độc, ó malai hay tìm hiểu kiếp trước của con cháu trong nhà để cúng bái tránh trừ tai họa do malơu (mắc cỡ) khi người bậc trên (bác, cha, chú, mẹ, anh, chị…) đều thai về lại trong dòng họ, trong gia đình… thì phải nhờ đến pháp lực cao hơn của các thầy Cati, thầy vijơu. Các thầy vijơu, cati và người trợ giúp Hulơu valàc có thể đến với thần linh sau khi vượt qua một cửa ngỏ. Cửa ngõ này trong các sử thi akhàt jucar gọi là Cajàc Amil, nơi có cây me thần. Đây cũng là nơi dừng chân của các vị thần khi ngao du khắp ba tầng, ba thế giới. Vấn đề này, chúng tôi xin phép được trình bày ở nội dung khác do thời gian hội thảo không cho phép.

Khảo sát các cuộc lễ cúng thần linh, cúng tạ ơn, rõ  nét nhất là lễ bỏ ma của người Raglai thường có một biểu tượng là ahòq. Chúng tôi giả  thiết rằng các thế giới ngăn cách với nhau bằng những con sông to, biển lớn. Vì vậy, khi di chuyển từ thế giới này sang thế giới khác cần nhờ cậy đến pháp thuật và chỉ có các vị thần linh, vijơu hay linh hồn người chết mới đi được mà thôi.

Quan niệm về linh hồn và tái sinh 

Nếu như sự phân chia các ba tầng, 3 thế giới được khoanh các đường biên tương đối chính xác thì chúng tôi không thể khoanh các vía, hồn của con người một cách rõ rệt. Cũng như người Việt, người Raglai có quan niệm con người có thể xác, vía và linh hồn. Thể xác của con người (Sor), vía (palagar), linh hồn (vungãq).

Ngoài thể xác, vía, hồn, mỗi người từ khi sinh ra còn có thêm Aluah pajieng (tinh): đây chính là hồn do thượng  đế ban cho. Mọi sự tài giỏi của bất kỳ người nào cũng phải do trời cho chứ không phải muốn mà có, không tự học hỏi mà có được.

Asur palagar(Vía)

Trong quan niệm của người Raglai, nam giới có 7 vía, nữ có 9 vía. Số lượng vía bên phải luôn nhiều hơn bên trái. Nam có 4 vía bên phải, 3 vía bên trái; nữ  có 5 vía bên phải, 4 vía bên trái. Vía cư trú trên đầu, vai và trên thân thể của một con người, không cư trú từ bộ phận sinh dục trở xuống chân. Theo Chamaliaq Riya Tinẻq, một nghệ nhân Raglai ở Khánh Sơn cho rằng bên phải chính là bên điều hành toàn thân thể, mọi vận động của con người đều từ bên phải sang bên trái. Đây cũng chính là chiều sinh của sự vận động theo quan niệm dân gian của người Raglai. 

Sơ đồ chức năng của ahòq trong nghi lễ vòng đời của người  Raglai (Ảnh: Trần Kiêm Hoàng)

Khi con người chết đi, các palagar tan biến, trở về  thế giới của ông bà chứ không cùng linh hồn tạo thành ma.

Vungãq yawa (hồn)

Một người còn sống đều có linh hồn (vungãq). Đến lượt mình Vungãq lại bao gồm nhiều loại: Vungãq cachua: hồn đầu lòng, Vungãq khrãh: hồn giữa và Vungãq tiluiq: hồn út. Hồn út và hồn đầu lòng chỉ có một còn hồn giữa có nhiều hơn. Hồn giữa có thể là 3,5,7 hồn (2) hay nhiều hơn nữa (nhưng phải là số lẻ). Theo thông tin của một số người già Raglai ở huyện Khánh Sơn cho rằng hồn giữa càng nhiều thì người đó sống càng lâu.

Hồn lấy xác làm nơi trú ngụ. Khi con người tắt thở, hồn thoát khỏi xác. Asur palagar không còn nữa, tan biến cùng với thể xác. Aluah pajieng trở về cõi thượng đế ở bên kia để chờ ban cho người khác.

Khi con người chết đi, khác niệm một khái niệm mới xuất hiện đó là MA (atơu). Khác với vía, hồn là của người sống, ma là hồn của người chết, là hồn đã thoát khỏi thể xác. Như vậy về bản chất thì ma khác như thế nào đối với hồn và vía? Các vía và hồn không còn thể xác làm nơi nương tựa. Ba hồn bảy vía đối với nam, ba hồn chín vía đối với nữ sẽ biến thành bao nhiêu ma? Nếu vía và hồn hoàn toàn xa lạ với ma thì khi ma xuất hiện vía và hồn sẽ đi đâu?

Quan sát các cuộc lễ tang của người Raglai, chúng tôi thấy rằng các vị chủ nhang và trong các lời khấn bái đều đối xử ma như một cá nhân nhất thể. Giả thiết rằng sau khi chết, các vía và  hồn cố kết lại thành một thể thống nhất gọi là ma. Thế nhưng ma này vẫn còn thiếu một hồn quan trọng nhất, đó chính là vungãq tiluiq (hồn út).

Khi con người chết, linh hồn tác động vô trật tự, làm hỗn loạn sinh hoạt của cõi sống. Bởi vậy, người sống phải làm chuyển đưa ma từ thế giới tự nhiên không còn thích hợp với ma, không thích hợp với hồn đầu lòng, các hồn giữa về thế giới của siêu nhiên, về cõi chết.

Hồn đầu lòng và hồn giữa được đưa vào ở tạm trong gai tuah chờ đến lúc làm lễ bỏ ma (Vidhi atơu) nhập thể với hồn út để về với thế giới ông bà.

Khi con người chết, trước khi được người thân làm lễ bỏ ma, hồn của người chết vẫn chưa về được thế giới ông bà. Ở đây như có một vách ngăn vô hình giữa thế giới trần gian và thế giới ông bà. Khỏang không gian này chúng tôi tạm gọi là cõi trung gian giữa cõi sống (thế giới trần gian) và cõi chết (thế giới ông bà). Hồn người chết vẫn có thể qua lại từ cõi trung gian này đến cõi sống. Những người chết vì bất đắc kỳ tử, chết bị cọp vồ, cây đè… mà không được người thân cúng tạ và trừ giải sẽ trở thành nhang vàng, nhang độc hại người.

Cõi trung gian này dày hay mỏng là do thời gian của người thân làm lễ bỏ ma cho người chết chậm hay sớm. Nếu sau khi chết mà làm lễ bỏ ma ngay hoặc những trường hợp khác thì vách ngăn này gần như  không có. Từ thế giới trần gian người chết đi thẳng về thế giới ông bà nhờ chiếc thuyền đưa linh kagor trên mái nhà mồ.

Sau khi làm lễ bỏ ma, ma về thế giới ông bà. Chính vungãq là hồn đầu thai trở lại trần gian và được thượng đế ban cho một Aluah pajieng khác trở thành con người khác với người đã chết. Một người chết, có thể đầu thai trở lại trong gia đình hay trong dòng họ, trong làng thành một hay nhiều người khác nhau. Ông Chamaliaq Riya Tinẻq cho biết, sau khi nhờ thầy cati (thầy tòng teng) xem bói, biết được cha vợ của mình là ông Catơr Du Ranh (ở xã Sơn Bình, huyện Khánh Sơn) đầu thai thành hai người khác nhau trong dòng họ (?).

Nghiên cứu lễ bỏ ma của người Raglai ở Khánh Hoà  và các nghi thức, quan niệm của của họ, chúng ta có  thể chu trình từ khi con người còn sống, chết  đi biến thành ma và quay trở lại thành người mượn môi trường đất là yếu tố vật chất và biểu tượng là con thuyền kagor đưa linh trên mái nhà mồ.

Phải chăng đây cũng là dấu vết nguồn gốc biển xa xưa của tộc người này.

Th.S Trần Kiêm Hoàng 

(1) Người Raglai có thành ngữ “Putau ia huruơi , Cơi ia Vila”  thường dùng tương tự như người Việt có câu “Trời đất ơi!”
(2) Vungãq khrah rah vungãq cachua va vungãq tiluiq:Hồn giữa kề bên hồn đầu lòng dẫn dắt hồn út.

Tài liệu tham khảo chính:

- NGÔ ĐỨC THỊNH 2006: Văn hóa vùng & phân vùng  văn hoá ở Việt Nam. – H: NXB Khoa học Xã hội, 861 trang.
- Phan Xuân Biên (cb), Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyên, Nguyễn Văn Hụê 1998: Văn hóa và xã hội người Ra-glai ở Việt Nam. – HCM: NXB KHXH, 346 trang.
- Các Sử thi Akhàt Jucar Raglai đã công bố



Đọc báo tin tức 24htin thế giớitin pháp luật