Ngày 16/04/2014


Hà Nội: Hội làng La Khê
Hà Nội: Hội làng La KhêHà Nội: Hội làng La Khê
910420
11.03.2013 22:27:54

Hà Nội: Hội làng La Khê

VN Times -

Đất La Khê không chỉ giầu mà đẹp. Đẹp từ con người đến cảnh quan, lễ hội. Đình La Khê thờ 2 vị Thành hoàng là “Hắc Diện đại vương” và “Tiên Thiên Bảo Hoa công chúa” (gọi là nhị vị đại vương). Trong quần thể đình còn có đền thờ (nhà mẫu) đặt bia thờ Đức Thánh Bà (còn gọi là Bia Bà). Ngoài ra còn 1 tấm bia thờ 10 vị tổ sư nghề dệt the là người Trung Quốc có công dạy dân dệt những tấm the vân nổi tiếng một thời. Nhà Nguyễn đã sắc phong 10 vị thánh sư là “Dực bảo tôn thần”. Lễ hội La Khê gắn liền với công trạng của những vị thần, những bậc tiền bối có công lớn với làng, với nước.


Hội làng La Khê Hà Nội - VNT

Đền thờ Đức Thánh Bà - nơi đặt Bia Bà

 

I. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

 

Làng La Khê thuộc xã Văn Khê, thành phố Hà Đông, nay là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội. Đây là một vùng đất cổ thuộc nước Văn Lang xưa. Thời Đinh và tiền Lê làng thuộc đạo Quốc Oai, sang thời Trần thuộc châu Quốc Oai. Đến thời Lê làng thuộc huyện Từ Liêm, rồi huyện Hoài Đức, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời Pháp thuộc, làng là 1 trong 7 làng La (La Khê, La Du, La Dương, La Tinh, La Phù, La Nội,Ỷ La) thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Sau khi tách tỉnh Hà Nội, La Khê thuộc tỉnh Hà Đông.

 

Theo tiến trình lịch sử, La Khê đã nhiều lần đổi tên. Xa xưa, làng có tên La Ninh, đến thời Lê Trung Hưng, tránh tên huý của vua Lê Duy Ninh nên làng đổi thành La Khê. Làng có con sông Đào nối sông Nhuệ với sông Đáy chảy qua, lại có ngã ba Ba La với đường 22 nối đường 6 nên rất thuận tiên cho giao thông và phát triển thương mại.

 

Từ xưa La Khê đã là tiền đồn trấn ải phía Tây Nam của Hà Đông, Hà Nội. Nghĩa quân Lam Sơn (1426) đã từng chọn Tam La (giữa 3 làng La) làm nơi phục binh chống giặc Minh mà dấu chân của họ vẫn còn in lại với tên tuổi của tướng Phạm Văn Sảo, Trịnh Khả. Đến năm 1789, La Khê, với con đường 6 đã góp phần làm nên kỳ tích chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung .

 

Với vị thế một làng Việt cổ, từ lâu La Khê đã tạo cho mình một phong cách sống đẹp. Đó là sự khéo léo, tài hoa mà chúng ta được biết qua nghề dệt nổi tiếng của làng:

 

“ The La, lụa Vạn, vải Canh

Nhanh tay đem bán, ai sành thì mua”

 

Lụa La Khê một thời là nguồn cung cấp chính cho các hàng tơ lụa ở phố Hàng Đào.

 

Chưa hết, làng còn nổi tiếng là một trong 4 làng “tứ quý danh hương” của vùng, gồm: Mỗ, La, Canh, Cót. Thời phong kiến làng có nhiều người đỗ đạt như các Tiến sỹ: Nguyễn Duy Nghi (1766), Ngô Duy Viên (1769); rồi quận công Trần Chân, danh y Nguyễn Tuân. Làng còn có người con gái xinh đẹp nết na là Đông Cung Hoàng Hậu Trần Thị Hiền.

 

Qua bao thăng trầm, người La Khê vẫn cần cù, nhân hậu, ham học, ham làm, thật xứng với mỹ tự “Mỹ tục khả phong” mà vua Tự Đức đã phong tặng cho làng xưa kia.

 

II. Lễ hội La Khê

 

1. Vùng đất cổ và những truyền thuyết

 

Đất La Khê không chỉ giầu mà đẹp. Đẹp từ con người đến cảnh quan, lễ hội. Đình La Khê thờ 2 vị Thành hoàng là “Hắc Diện đại vương” và “Tiên Thiên Bảo Hoa công chúa” (gọi là nhị vị đại vương). Trong quần thể đình còn có đền thờ (nhà mẫu) đặt bia thờ Đức Thánh Bà (còn gọi là Bia Bà). Ngoài ra còn 1 tấm bia thờ 10 vị tổ sư nghề dệt the là người Trung Quốc có công dạy dân dệt những tấm the vân nổi tiếng một thời. Nhà Nguyễn đã sắc phong 10 vị thánh sư là “Dực bảo tôn thần”.

 

Đình La Khê được xây dựng từ thế kỷ XVII, tu sửa lớn vào thế kỷ XVIII và đã được Nhà nước công nhận, xếp hạng di tích. Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật quý như án gian, nhang án, kiệu, hoành phi, câu đối, long ngai, bài vị … và 28 đạo sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn. Đình toạ tạc trên một khu đất đẹp, có diện tích 8000m2,có long chầu hổ phục, có giếng nước rộng trước cửa. Ngày nay khu vực đình là một quần thể bao gồm đình, chùa, nhà mẫu - Bia Bà.

 

Đối với người dân La Khê thì các vị thần, nhân mà họ tôn thờ có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của làng. Họ là những người có công lớn với làng, được dân làng ghi nhớ. Truyền thuyết kể rằng xưa kia La Khê là một vùng sình lầy hoang vu, lau sậy um tùm, gò cao, ruộng thấp xen lẫn suối khe. Đời sống nhân dân đã khó khăn, nghèo nàn lại bị nạn trộm cướp giặc giã luôn luôn khiến cuộc sống của họ đã nghèo khó lại thêm bất an. Thế rồi hai vị thần xuất hiện và báo mộng cho già làng rằng: Có một vị thần mặt đen, râu rậm, mắt sáng, mình mặc áo vàng, tay mang thiên kích sẽ vâng mệnh trời xuống thế trừ ác, giúp dân. Vị thần này có tên là Hắc Diện đại vương. Giấc mộng còn báo rằng sẽ có một vị tiên nữ tên Tiên Thiên Bảo Hoa công chúa cưỡi mây trắng theo luồng gió mát hạ xuống cõi trần, giúp dân khuyến thiện trừ hoạ. Bà xuất hiện trông thật dịu hiền, người bà toả ánh hào quang rực rỡ, tay cầm nhành hoa thơm. Bà chỉ vẩy tay một cái là nước đầy sông đầy suối. Nhờ 2 vị thần xuất hiện mà dân La Khê có nước để cày cấy, trồng hoa, có cơm có gạo để ăn no và chăn nuôi, của cải cứ thế sinh sôi nảy nở, khiến cho vùng đất này trở nên trù phú, con người thông minh, sáng láng, trai tài gái đẹp.

 

Thế rồi địa linh sinh nhân kiệt, nhiều nhân tài ra đời trên đất này, với những Tiến sỹ, võ quan. Họ đã phò vua, giúp nhân dân, trung thành với đất nước, như tướng Trần Chân chẳng hạn. Bấy giờ triều chính rối ren, Lê Tương Dực bức vua Lê Uy Mục tự tử rồi tiếm ngôi. Vua mới lên ngôi đã ăn chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ, thường cưỡi thuyền chiến đi chơi Hồ Tây, bắt phụ nữ bơi chèo để mua vui. Trước nghịch cảnh đó Cụ Trần Chân đã tham gia cuộc đảo chính cùng Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoàng Dụ lấy lại kỷ cương phép nước cho nhà Lê. Cụ được phong là Thiết Sơn Bá. Chính vì uy thế của Cụ Trần Chân với triều đình nên Mạc Đăng Dung mới xin kết làm thông gia. Cụ là con nuôi của Trần Duy Sản, đứng đầu triều Lê. Cụ là người có nhiều công lao với triều đình Lê Mạc.

 

Năm 1516 hai cha con Cụ Trần Chân đã bị những lời sàm tấu của bọn nịnh thần và bị giết hại. Họ được đưa về an táng ở Phúc Khê tự ( nay là chùa Ngòi, gần làng). Mấy năm sau cha con họ được minh oan và được truy phong là Dũng Quận Công (Trần Chân), tước bá (con trai Trần Lực).

 

Cũng từ đất này xuất hiện một người con gái xinh đẹp, nết na, tựa thần Bảo Hoa Công chúa. Nàng là Trần Thị Hiền, con của Cụ Dũng quận công Trần Chân. Bà sinh giờ Mão, ngày Tân Mùi, năm Hồng Thuận thứ ba (1511). Năm 1514, khi mới 3 tuổi, bà đã được Mạc Đăng Dung đến ướm hỏi cho con trai Mạc Đăng Doanh.

 

Càng lớn lên bà càng xinh đẹp, nết na, giỏi may vá thêu thùa, lại có tài thơ phú. Thật tài sắc vẹn toàn. Dân làng càng tin đó là thần Bảo Hoa giáng trần nên quý trọng vô cùng. Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527) đã cho đón con dâu về kinh. Năm Canh Dần (1530) Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con. Mạc Đăng Doanh lên ngôi đã phong bà làm Đệ Nhị cung. Tháng 5 năm Mậu Thân (1536) bà sinh Hoàng tử rồi lâm bệnh nặng. Biết mình không qua khỏi, bà xin triều đình trở về quê tĩnh dưỡng.

 

Trên đường trở về quê, bà đã mất, mặc dù vẫn có ngự y theo hầu. Quanh cái chết của Đức Thánh bà Trần Thị Hiền có nhiều giai thoại. Chuyện rằng sau khi bà mất, dân làng đã đặt di hài bà tại cánh đồng Đa Bang. Khi ấy trời bỗng nổi mưa giông, quan binh và nhân dân quây lều màn để đấy định khi tạnh mưa sẽ ra an táng. Mưa ngớt, mọi người ra tới nơi đã thấy di hài bà được mối xông, tự đùn lên thành mộ. Cánh đồng đó nay nhân dân gọi là cánh đồng Hoàng Hậu. Cạnh ngôi mộ bà, nhân dân khắc lên đó bài vãn của Mạc Đăng Doanh khóc vợ: “ Ôi phi ơi, nàng xuống cửu tuyền, xuống nơi u nhàn tĩnh mịch, nàng là người đẹp, người cần mẫn lại lo công việc gia nội, nàng không có lỗi lầm gì đáng hưởng phú quý đến vô cùng (cực lạc). Thôi thì kẻ ở, người đi sao không buồn rầu. Cái đức tính và hạnh kiểm của nàng đáng ghi vào trinh miên muôn đời không mai một”. Kèm theo đó là một bài thơ khóc vợ của Vua Mạc Đăng Doanh. Cuối bài thơ khắc trên tấm bia ghi niên hiệu Mạc Đại Chính năm thứ 9 (1539) (theo bản dịch tại Bia Bà - La Khê). Tương truyền trước khi mất Hoàng hậu đã đem hiến tất cả tiền bạc, ruộng vườn cho dân làng để khuyến khích nông tang, khuyên nhủ nhân dân chăm chỉ làm lụng, ăn ở lương thiện. Một truyền thuyết khác lại nói rằng Hoàng Hậu về cùng 2 con gái và cả 3 cùng mất. Sau khi bà mất, vua Mạc đã lấy mộ bà làm tâm để cắt đất chia cho làng cày cấy, từ đó đến nay. Năm 1982 dân làng La Khê đã rước tấm bia và thần hiệu của Đức Thánh Bà (Hoàng Hậu) về quần thể di tích đình làng và trang trọng xây đền để thờ phụng. Tương truyền Đức Thánh Bà rất linh thiêng nên càng ngày càng có đông người đến đây lễ bái.

 

2. Hội La Khê nức tiếng một thời

 

Ngày nay, hội làng La Khê tổ chức từ 14 đến 16 tháng Giêng. 15 là chính hội. Hội được tổ chức tại đình làng. Hàng năm tổ chức hội lệ, 5 năm lại tổ chức hội lớn 1 lần, có rước xách rất quy mô. Năm 2010 là năm chẵn, làng tổ chức đại đám.

 

Lịch trình lễ hội như sau: Ngày 14 tháng Giêng là ngày Khai tế, ngày 15 tháng Giêng là chính hội, ngày 16 tháng Giêng là ngày mãn tịch.

 

Trong những ngày hội,làng tổ chức các hoạt động vui chơi, thể thao như: Đấu cờ tướng, bóng bàn, đấu võ, chọi gà, ném vòng cổ chai, đu quay, hát chèo của Đoàn chèo Hà Tây (nay thuộ Hà Nội), hát quan họ trên hồ trước cử đình.

 

Lễ vật dâng lên thành hoàng gồm có: Xôi, thịt, hàng mã (voi ngựa), nhất thiết phải có voi ngựa hàng mã, bởi đây là biểu hiện những con vật mà các ngài đã dùng khi đến đây. Nếu tổ chức rước thì vào 6 giờ sáng ngày 15. Ngoài 2 bài vị của thành hoàng còn có bài vị của Đức Thánh Bà (xưa kia chỉ rước bài vị của 2 thành hoàng làng). Đám rước đi theo trình tự từ đình làng (đình chính) đến đình Mới - đình phụ (gọi là mới vì đình xây sau đình chính). Khoảng cách từ đình chính đến đình Mới là trên 200m. Chặng đường này sẽ đi qua UBND phường, qua Ba La Bông Đỏ, rồi về đình Mới. Tại đây, các ngài sẽ ngự 1 đêm để hôm sau rước trở lại đình. Đoàn rước bao gồm 1 đội múa tử (đi đầu, dẹp đường), 1 đội múa sênh tiền, 1 đội binh đao, 2 long đình và kiệu, các ông ngựa, đội tế, đội dâng hương, dân làng và khách hành hương…

 

Tìm hiêu về lễ hội truyền thống La Khê, chúng tôi được biết, xa xưa La Khê gồm 4 thôn: Đông, Tây, Nam, Bắc; hay còn gọi là Tứ xã. Mỗi thôn sẽ tổ chức hội làng riêng và thờ thần ở 4 góc đình. Nay 4 thôn được gọi là 4 đội, hay xóm, theo tên gọi cũ và chung 1 làng. Lịch lễ hội xưa của mỗi thôn một khác, kéo dài từ ngày mồng 6 tháng Giêng đến hết ngày 21 tháng Giêng. Lịch như sau:

 

Từ ngày 6 đến 11 tháng Giêng là hội của La Khê Đông.

Từ ngày 11 đến 16 tháng Giêng là hội của La Khê Nam

Từ ngày 16 đến 21 tháng Giêng là hội của La Khê Bắc.

La Khê Tây không tổ chức rước bao giờ mà chỉ tế lễ mang tính hội lệ.

 

Hội của La Khê Đông diễn ra đầu tiên. Lịch hội như sau: Mồng 6 khai tế và rước; mồng 7 tế nhập tịch, mồng 8 và 9 dân làng, khách tứ phương đến lễ; mồng 10 tế giã; 11 mới chấm dứt hội. Đội tế của La Khê Đông gồm 8 người, trong đó có 2 ông bồi tế, 1 chủ tế, ông đông xướng, ông tây xướng…

 

Ngày mồng 6 là chính hội của thôn. Hôm đó có tế bò thui nguyên con và rước kiệu. Thôn tổ chức rước rất lớn, lịch trình cũng từ đình chính đến đình mới, như ngày nay. Cùng với rước kiệu thánh, 4 giáp của thôn sẽ cử đại diện ở nhà để làm thịt bò. Sau khi mổ thịt, lấy ra lục phủ ngũ tạng đem luộc để tế cùng, con bò được khâu bụng và đem đi thui bằng rơm. Đến 12 giờ trưa con bò này sẽ được đưa ra đình để tế lễ rồi xả thịt chia cho dân làng. Trong những ngày hội sẽ có nhiều trò diễn, trò vui như: Hát cô đầu, đấu roi, đánh vật, chèo (các chiếu chèo được làng thuê từ ý Yên – Hà Nam và Mai Lĩnh (Chương Mỹ) về. Theo các cụ già thì lần tổ chức lễ hội truyền thống cuối cùng của thôn La Khê Đông vào năm cải cách ruộng đất (1955).

 

Lễ hội của La Khê Nam và Bắc cũng tổ chức rước kiệu linh đình. La Khê Nam rước ngày 11, La Khê Bắc rước ngày 16. Trong ngày chính hội 2 thôn có tế lợn luộc nguyên con. Những ngày hội có các trò diễn như bịt mắt đập niêu (nồi niêu treo lên, một người bịt mắt và cầm gậy đập, đập trúng nồi niêu thì được thưởng), thò lò xóc đĩa, vật, đấu roi ( 2 người cầm 2 đoạn tre đực, 2 đầu tre bịt giẻ màu. Ai đâm trúng hồng tâm của đối phương trước thì thắng).

 

Nếu gặp những năm “phong đăng hoà cốc”, 3 thôn Đông, Nam, Bắc tổ chức rước liên tục vào các năm, không theo tục lệ 5 năm đại đám một lần.

 

Hội của các thôn La Khê cũng nổi đình nổi đám một thời. Sau năm 1990 hội làng La Khê mới được tổ chức lại như ngày nay.







Phạm Thị Thanh Quy

Theo Vanhien.vn



Trang tin tứcgiải trí, cập nhật tin nhanhtin tức 24h



Tin trong ngày cùng chủ đề: