Dân tộc Mnông và những lễ hội truyền thống
910722
07.06.2012 06:49:46

Dân tộc Mnông và những lễ hội truyền thống

VN Times -

Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắc Lắc; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta



Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắc Lắc; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta


nguoi mnong va nhung le hoi
Lễ dạm và lễ ăn hỏi của người Mnông

Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Người M’nông theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, trong gia đình người vợ giữ vai vị trí chính, nhưng người đàn ông không bị phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau. Cha mẹ về già thường ở với con gái út. Theo nếp cũ, đến tuổi trưởng thành, người M’nông phải cà răng mới được yêu đương lấy vợ lấy chồng. Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là dạm hỏi, lễ đính hôn, lễ cưới. Sau khi cưới, chàng rể thường về nhà vợ. Nhưng cũng có nơi đôi vợ chồng trẻ ở phía nào tùy thỏa thuận gữa hai gia đình.
 
Người M’nông tin có rất nhiều thần linh liên quan đến cuộc sống của mình, trong đó thần lúa giữ vị trí đặc biệt, hàng năm cùng với việc canh tác, người M’Nông thực hiện những nghi thức nhằm giữ gìn thần lúa, cầu mong mùa màng bội thu. Lễ hội dâng trâu là hoạt động tín ngưỡng, do thế không thể thiểu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tiêu biểu là dân tộc M’nông. Đây là dịp để cộng đồng, gia đình đâm trâu tế thần, làm lễ mừng thắng lợi, lễ trả ơn thần, mong thần linh ban cho nhân khang vật thịnh, mùa màng sinh sôi, cuộc sống no đủ, người người hạnh phúc.
 
Để làm lễ Tâm Nghết - dâng trâu mừng được mùa, điều cần thiết và đầu tiên là phải làm cây nêu và dựng cây nêu, có con trâu và buộc con trâu vào cây nêu; lễ được thể hiện hết sức công phu và nhiều tiết mục, từ việc tiến hành cúng trâu, cúng cây nêu, cúng ché rượu, hát múa, đánh chiêng gọi thần lúa, hát khóc trâu, già làng tuyên bố chém trâu cho dân làng, nấu nếp ống, nướng con lợn, dọn ăn mời khách, uống rượu ăn đầu trâu và tiễn khách ra về. Người M’nông có tục N’giáp Bon có nghĩa là đoàn kết trong buôn làng, gặp mặt đoàn kết với các buôn làng bạn, kết thân, kết bạn. Đây là tục lệ mang tính nhân văn nhân bản, một nghi thức không thể thiếu được trong hệ thống lễ hội vòng đời con người.
 
Tục dựng cây nêu được coi là thiêng liêng, làm cây nêu rất công phu, trang trí và vẽ cầu kì hàng tháng trời. Cúng dâng lễ một con heo, một ché rượu, trước sự chứng kiến của thần linh và chứng kiến của cộng đồng. Cây nêu được hướng thẳng về phía trời xanh. Dựng xong cây nêu, buôn làng nổi chiêng múa vòng quanh rồi dắt trâu tế đến buộc. Chủ lễ cúng nghi thức buộc trâu vào cột cây nêu rồi làm lễ khóc trâu. Mặt trời lên cũng là lúc các vị thần thức dậy, sau bài múa, lời khấn lời khóc, chiêng trống nổi lên các tráng sĩ M’nông khiên giáo uy nghiêm múa vòng quanh cột nêu rồi đột ngột chặt đứt hai khuỷu chân, đâm trúng tim con trâu tế.
 
Già làng đặt lên lưng trâu bầu rượu, bát gạo, cái chiêng để cúng thần cầu cho buôn làng mình và các buôn làng bầu bạn đoàn kết một lòng, không ai làm điều ác, không đi theo kẻ xấu. Các nghệ nhân cùng dàn cồng chiêng múa những vòng tròn từ giã con trâu về xứ thần linh. Sau nghi thức tế trâu là các trò chơi dân gian mang tính thi tài trong cộng đồng: thi giã gạo, nướng cơm lam, kéo co, bắt cá trê trong chum, thi đan gùi, lảy bắp… các cuộc thi vui kéo dài đến khi cỗ được bày ra trên lá rừng, ché rượu cần ngậm đầy nước mát. Cộng đồng mời nhau đánh chiêng, uống rượu, ăn thịt trâu cho đến trọn ngày.
 
Làng M’nông được gọi là bon, mỗi làng chừng mười đến hai mươi nóc nhà. Xưa kia là nhà dài của gia đình lớn, nay chia thành gia đình nhỏ các bon M’nông có thể đến bốn, năm mươi nóc nhà. Các nhà trong bon thường có quan hệ nhân tính theo dòng họ nữ. Hiện nay, làng M’nông bao gồm những thành viên của nhiều dòng họ, là những thành phần ngoại buôn. Tên riêng của cá nhân đều đứng trước và gắn với họ mẹ. Trong làng người cùng dòng họ có quan hệ gần gũi, có khu vực nghĩa địa riêng để phân biệt.
 
Người M’nông có kho tàng văn hóa dân gian phong phú bao gồm sử thi, cồng chiêng, múa snang, dân ca, dân nhạc các hình thức kể chuyện gia phả, kể chuyện gia huấn gia phong, nghệ thuật thêu dệt hoa văn trên vải, đồ đan mây tre truyền thống. Đồng bào M’nông đã đóng góp công sức, xương máu trong kháng chiến giữ nước và xây dựng đất nước. Trong thời kỳ đổi mới vùng cư trú của đồng bào đã có nhiều đổi thay kì diệu, cuộc sống no ấm, bình đẳng, đoàn kết chan hòa trong mọi bon làng cùng với bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc

Bửu Tú



Đọc báo tin tức 24htin thế giớitin pháp luật